Articles

GIỚI THIỆU CÁC BẢN IN KẾ ĐĂNG LỤC
Thích Đồng Dưỡng

     Các sách ghi chép về truyền thừa các phái thiền ở nước ta khá hiếm. Theo tài liệu tham khảo của các sách sử Phật giáo chỉ thấy được có vài cuốn như Thiền uyển tập anh, Thánh đăng lục, Tam tổ thực lục, Kế đăng lục, Lịch truyện tổ đồ, Thích song tổ ấn tập, v.v. Trong đó, chỉ có Kế đăng lục là được biết đến nhiều nhờ bản sách được khắc in lại nhiều lần. Các tác phẩm trên phải tìm đọc tại các thư viện, các tủ sách cá nhân may ra còn được gặp. Trong những lần đọc sách tại thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, chúng tôi chú ý và cố gắng tìm hiểu bản AC 158b thuộc bản in năm nào. Từ đó, đã mở cho chúng tôi nhiều lí thú khi phát hiện bản AC 158b tuy thiếu nhưng là bản in có niên đại xưa hơn các bản thông hành. 

     Trước hết, chúng tôi xin giới thiệu sơ qua về tập sách. Kế đăng lục nguyên tên là Ngự chế thiền uyển thống yếu kế đăng lục do thiền sư Như Sơn chùa Hồng Phúcsoạn vào năm Giáp Dần (1734) nhà Lê[1]. Sách được chia làm ba quyển, quyển nhất ghi chép sơ lược về 7 Phật quá khứ, 28 tổ Ấn Độ và 6 tổ Trung Hoa. Quyển tả ghi chép truyền thừa phái Lâm Tế từ thiền sư Nam Nhạc Hoài Nhượng truyền đến các thiền sư Việt Nam phái Chuyết Công như Viên Văn Chuyết Chuyết, Minh Lương, Chân Nguyên[2]. Quyển hữu ghi chép truyền thừa phái Tào Động từ thiền sư Thanh Nguyên Hành Tư đến hai thiền sư Việt Nam là Thủy Nguyệt Thông Giác và Chân Dung Tông Diễn. Sách được trang trí khá đẹp. Khi lật các tờ, chúng ta thấy bản sách in hình ảnh chư Phật tổ, phía mặt b của tờ trước và tiểu truyện ở mặt a của tờ sau nên khi lật ra trước xem hình ảnh, sau xem hành trạng[3].

     Sách Di sản Hán Nôm Việt Nam thư mục đề yếu cho biết: “Kế đăng lục, sa môn Như Sơn ở chùa Hồng Phúc trước thuật và viết bài tựa năm Giáp Dần triều Lê. Sa di Tính Chúc duyệt, sa di Tính Phái và Tính Hiển kiểm hiệu. Hòa thượng Phúc Điền viết bài tựa khắc in năm Tự Đức 12 (1859). 2 bản in, 2 tựa, 1 bạt, có hình vẽ tượng Phật. AC 158a: 300 tr, 29x17. Ac 158b: 86 tr, 28x16. Sự tích 74 Hoà thượng và 121 Tổ sư của đạo Phật.”[4]. Thư viện nơi đây chỉ còn hai bản sách mang kí hiệu AC 158a, AC 158b. Ta thấy người làm thư mục chỉ giới thiệu chung, chưa phân định các bản in nên độc giả khó hình dung ra hết các bản, không biết hai bản có phải do Phúc Điền khắc in hay không? Từ chỗ đó, chúng tôi sẽ tiến hành nghiên cứu kĩ hai bản in, nhằm làm rõ nguồn gốc tập Kế đăng lục[5] này.

     Bản AC.158agồm một tập, được chia làm ba quyển: quyển nhất, quyển tả và quyển hữu như chúng tôi giới thiệu ở trên. Chỉ khác các bài tựa, bạt mà chưa giới thiệu. Ở quyển nhất, tờ đầu có hình ảnh đức Phật Uy Âm Vương ở giữa và nhị vị bồ tát thị tùng. Tờ tiếp theo, hàng đầu đề “San khắc truyền đăng thủ Trần gia bản”, trên gáy đề “Truyền đăng ngũ quyển tân tự” tức bài tựa mới cho 5 quyển truyền đăng, phía dưới đánh số tờ. Bài tựa chiếm 4 tờ. Cuối tựa cho biết “Ngày vọng tháng giêng năm Kỷ Mùi niên hiệu Tự Đức thứ 12, do Bồ Sơn đao điệp Phúc Điền Hòa Thượng soạn, giám tự pháp danh Phương Viên thừa khắc, Lê Thuận Chiếu lĩnh binh tỉnh Sơn Tây, pháp danh Đại Tuệ hưng công, môn nhân Văn Đường vâng chép”[6]. Bài tựa do Phúc Điền (1784 - 1866) soạn năm Tự Đức thứ 12 (1859)[7]. Tiếp đến là một bài Tựa dẫn do Như Sơn chùa Hồng Phúc soạn năm Giáp Dần (1734) triều Lê. Phạm Gia Lạc người xã Trung Lập, huyện Đường Hào vâng chép[8]. Bài Tựa dẫn chiếm 4 tờ, trên gáy đề “Kế đăng lục quyển  nhất” phía dưới ghi “Tự nhất” tức tờ thứ nhất bài tựa. Sau đó là nội dung quyển nhất của sách. Tờ đầu có ghi rõ “Hồng Phúc tự sa môn Như Sơn trứ thuật, môn nhân sa di Tính Chúc tham duyệt, sa di Tính Phái, Tính Hiển cung hiệu”. Nghĩa là sách do sa môn Như Sơn ở chùa Hồng Phúc soạn dưới sự hỗ trợ của các đệ tử như Tính Chúc duyệt sách, Tính Phái, Tính Hiển hiểukhảo. Phần cuối sách, tức nằm về tờ 43b6 ghi “Thanh Lục xã Phó Số tuyên khắc” tức Phó Số ở xã Thanh Lục khắc ván. Tờ 44 là bài “Kế đăng lục hậu bạt” do Phổ Thận (1849 - 1919)[9] chùa Nguyệt Quang xã Đông Khê tỉnh Hải Phòng viết vào năm Duy Tân thứ nhất (1907) và tàng bản tại chùa. Ngoài ra, còn có 4 tờ sau ghi chép công đức để khắc in ván sách.

     Tờ đầu phần công đức cho biết, vào mùa thu năm Bính Ngọ niên hiệu Thành Thái thứ 18 (1906), trụ trì chùa Nguyệt Quang là Phổ Thận có trùng san 1 quyển kinhDược Sư, 1 bộ Kế đăng lục xuất tượng, 1 quyển Qui Sơn cảnh sách diễn âm, 1 quyển kinh Cao Vương, 1 quyển Hương Tích diễn âm ca đến ngày lành tháng 11 năm Duy Tân thứ nhất (1907) hoàn thành và ghi chép danh sách công đức cho cả các bản in trên[10]. Như thế, Phổ Thận đã khắc in khá nhiều sách Hán Nôm Phật giáo, nhiều tác phẩm thuộc văn học Phật giáo nước nhà mà chúng tôi chưa có điều kiện sưu tầm được. Từ các thông tin trên, chúng ta biết bản in Kế đăng lục được khắc ván tại chùa Nguyệt Quang vào năm Duy Tân thứ nhất. Và, do khai thác các bài tựa, chúng ta biết vào thời Lê, thiền sư Như Sơn có khắc bản lần đầu và đến năm Tự Đức thứ 12 (1859), Phúc Điền cho tái bản tác phẩm và lần khắc bản tại chùa Nguyệt Quang lại dựa vào bản khắc do chính Phúc Điền san khắc.

     Bản AC. 158bgồm 43 tờ, mỗi tờ gồm hai trang, mỗi trang được kết cấu 10 dòng, mỗi dòng 20 chữ, viết rõ, đẹp. Sách còn nguyên vẹn, tờ đầu bị bong mỏng ở một số nơi nhưng chữ vẫn còn tốt. Trang đầu đề tên sách là “Ngự chế thiền điển thống yếu kế đăng lục quyển chi hữu”, hàng tiếp theo ghi “sa môn Như Sơn thuật” gáy sách đề: “Kế đăng lục quyển hữu”. Như thế, bản này chính là quyển hữu của sách Kế đăng lục. Có thể, người in sách đã đóng thành ba quyển riêng biệt chứ không đóng thành một tập như bản AC.158a mà ta đã nói trước[11]. Phần nội dung, khi đối chiếu với quyển hữu bản AC.158a, thấy giống nhau. Tức quyển này ghi chép về hành trạng các tổ phái Tào Động từ vị sơ tổ Thanh Nguyên Hành Tư đến vị cuối cùng là thiền sư Tông Diễn. Mặt cuối có bài Cổ đức cương tông tụng chiếm 5 dòng, dòng thứ sáu ghi: “Thanh Lục xã Phó Hai tuyên khắc”. Tức bản này do phó Hai, xã Thanh Lục khắc ván. Văn bản không ghi năm khắc in cùng người đứng ra lo công việc khắc ván nên không xác định được niên đại.

     Bản AC.158b thuộc loại xưa, giấy mỏng và khác với bản AC 158a là do “Thanh Lục xã Phó Số tuyên khắc”. Bản AC 158b do Phó Hai. Như thế, hai bản do hai thợ ở xã Thanh Lục khắc ván. Điều này cho thấy bản AC.158a  và AC 158b là hai bản khác nhau. Câu hỏi được đặt ra là bản AC 158b in vào thời gian nào, trước hay sau bản AC 158a?

     Chúng tôi còn tìm được một bản nữa. Tờ đầu ghi tiêu đề “Thiền uyển kế đăng lục” chính giữa, chữ lớn. Hàng bên phải ghi: “Việt Nam Phật điển tùng san chi bát” tức quyển thứ 8 của bộ Việt Nam Phật điển tùng san (VNPĐRS). Khi đối chiếu với bản AC.158a đều giống nhau từ hình thức cho đến nội dung. Tờ cuối sách có mấy dòng tiếng Pháp và bên dưới ghi “HA NOI 1943”. Theo nhà sử học Nguyễn Lang: “Từ năm 1940 trở đi Hội Bắc kỳ Phật giáo lại khởi công khắc bản ấn hành những thư tịch  Phật giáo Việt Nam bằng Hán văn. Bộ Việt Nam Phật điển tùng san đã được Hội khắc bản và ấn hành với sự bảo trợ của trường Viễn Đông Bác Cổ. Năm 1943, những tác phẩm sau đây được ấn hành:

  •  Chư kinh nhật tụng (một bộ hai tập)
  •  Thụ giới nghi phạm (một bộ hai tập)
  • Thiền uyển kế đăng lục (một tập)
  • Pháp hoa đề cương (một tập)
  • Bát nhã trực chỉ (một tập)
  • Khóa hư (một tập)
  • Trần triều dật tồn điển lục (một tập)
  • Lễ tụng hành trì tập yếu (một tập)”[12]
GIỚI THIỆU CÁC BẢN IN KẾ ĐĂNG LỤC

     Khi đối chiếu với bản AC.158a, chúng tôi nhận thấy bản VNPĐTS đã lấy bản ván của chùa Nguyệt Quang, in nguyên lại, bỏ qua bài hậu bạt của thiền sư Phổ Thận và phần công đức cuối sách. Chúng tôi thiết nghĩ, lúc này bản ván chùa nguyệt Quang có thể còn tốt nên Viện đã cho sao dập nguyên, chỉ bỏ những phần không liên quan đến tác phẩm. Mục đích của Viện là cốt lấy phần nội dung của bộ sách, đáng lẽ nên có một bài giới thiệu nguồn gốc bản in thì hay biết mấy!

     Khảo sát trên thực tế, chúng ta biết ngoài bộ ván sách Kế đăng lục do chùa Nguyệt Quang khắc in đến bản in trong bộ VNPĐTS thì không còn thấy chùa nào trong nước in lại. Với lại, năm Duy Tân thứ nhất (1907) đến năm 1943 thì bộ ván còn khá tốt, bản giấy lưu hành rộng rãi. Thế thì, bản AC.158b in vào đợt nào?

     Theo như chúng ta biết, vào thời Hậu Lê, thiền sư Như Sơn soạn và khắc in năm Giáp Dần (1734). Đến đời nguyễn, vào năm Tự Đức thứ 12 (1859), Phúc Điền có tục biên một số vị thiền sư phái Lâm Tế vào bản sách của Như Sơn và cho khắc in bộ Kế đăng lục. Theo bài tựa do Phúc Điền viết:

     “Nước ta xưa có Thiền uyển làm lục, Tập anh làm tên, chép đại khái các bậc cao tăng thạc đức của ba triều đại. Nội dung lỗ mỗ bất nhất, văn mạch khó phân, cho nên hiệu đính lại, chép ra khắc in lưu hành, để giữ bản cổ, riêng làm quyển thượng. Đến triều Trần có một quyển Thánh đăng ngữ lục, chỉ chép ba tổ triều Trần, có tích không hình. Đến đời Hậu Lê, tổ sư Như Sơn noi theo sách Ngũ đăng hội nguyên, soạn thành ba quyển, có hình có tích. Bắt đầu từ Phật Uy Âm, thứ đến 7 Phật Thế Tôn, sau nữa đến 28 tổ Tây thiên, 6 tổ Đông độ, và 3 tổ Chuyết Công, Minh Lương, Chân Nguyên thuộc pháp phái Lâm Tế và 2 vị hòa thượng Thủy Nguyệt và tổ sư Tông Diễn thuộc chính tông Tào Động ở nước ta. Pháp phái Lâm Tế từ tổ Chân Nguyên truyền đến thượng sĩ Cứu Sinh về sau chưa được bổ sung vào. Nhân đó, lão tăng theo thứ tự kế đăng ở trên mà tiếp tục phụ thêm 5 vị tổ sư có hình có tích từ cuối đời nhà Lê cho đến khoảng năm Mậu Ngọ niên hiệu Tự Đức thánh triều, trong có bậc thượng sĩ xuất trần, phụng xứ cao lưu tu trì; ngoài có thánh quân đại thần, tại gia cư sĩ ngoại hộ, nếu sắp xếp thì có thứ tự, thương xót đèn tổ tàn mà sắp mất, vì thế lão tăng đem hết tâm lực, mấy phen lược chép từ ba tổ nhà Trần, hai phái Lâm - Tào, chân tục nhị đế, làm thành một tập cùng Ngoại khoa tạp lục, biệt làm quyển hạ, khiến pháp truyền nhau, mà đèn tiếp nối”.

     Phúc Điền đã làm một công việc là vừa khắc in hai tác phẩm Thiền uyển tập anh, Kế đăng lục, vừa biên tập một quyển hạ để trở thành một bộ sách gồm 5 quyển, lấy tên là Thiền uyển truyền đăng lục, như ông đã ghi với tên đề Truyền đăng ngũ quyển. Từ những cơ sở do Phúc Điền đưa ra, chúng tôi tiến hành thu tập các tư liệu còn lại trong các thư viện. Viện Nghiên cứu Hán Nôm có một quyển với dòng đầu ghi “Đại Nam Thiền uyển truyền đăng tập lục quyển thượng” (kí hiệu A 2767)[13], cuối sách tờ 65a10 ghi “Đại Nam Thiền uyển truyền đăng quyển thượng”, gáy sách từ tờ 1 đến cuối sách đều đề “Thiền uyển truyền đăng lục quyển thượng”. Theo các nhà nghiên cứu, bản sách này là bản in lại sách Thiền uyển tập anh mà Phúc Điền có nói và Ông cho nó trở thành quyển thượng của bộ sách mình. Theo Phúc Điền, ba quyển Kế đăng lục sẽ là ba quyển tiếp theo. Còn quyển cuối được ông đề là quyển hạ và do chính ông viết. Quyển hạ của sách Truyền đăng cũng còn được trân tàng tại Viện Nghiên cứu Hán nôm, kí hiệu VHv.6. Dòng đầu của tờ 1 ghi “Đại Nam Thiền uyển kế đăng lược lục, tự trần chư tổ Lâm Tế - Tào Động quyển hạ” trên gáy đề “Thiền uyển truyền đăng lục quyển hạ”. Như thế, cả hai quyển thượng hạ, trên gáy sách vẫn đề là Thiền uyển truyền đăng lục và có thể chính là tên mà Phúc Điền muốn đặt cho tập sách của mình.

     Nhờ tìm đọc một số tư liệu Hán Nôm Phật giáo mà chúng tôi có điều kiện khảo sát bộ Thiền uyển truyền đăng lục của Phúc Điền. Bộ này vẫn còn nguyên, nhưng bản in Kế đăng lục lại không đầy đủ trọn bộ trong lần in của Phúc Điền, chúng được chùa Nguyệt Quang khắc ván in lại vào năm 1907 và trở thành một tập sách riêng biệt như ý ban đầu của Như Sơn. Nhận thấy viện Hán Nôm có hai bản sách Kế đăng lục mang hai kí hiệu AC.158a, AC.158b có một số sai khác như chúng ta đã trình bày và điều trăn trở của chúng tôi là có thể bản AC.158b in trước nhưng sưu tầm còn thiếu nên chỉ còn quyển hữu của tập sách.

     Lần theo tên người khắc ván là Phó Hai xã Thanh Lục, chúng tôi đi tìm trong hai quyển thượng hạ sách Thiền uyển truyền đăng lục. Quyển thượng (tức bản in lại Thiền uyển tập anh) không thấy đề người khắc ván, chỉ thấy “Bồ Sơn môn nhân pháp danh Thanh Hà phụng tả” tức bản này do sư Thanh Hà viết chữ khắc in. Quyển hạ ở tờ 65b7 ghi thông tin bổ ích là “Thanh Lục xã Phó Hai tuyên khắc”. Dòng tiếp theo ghi “Quyển hạ chung tất” tức hết quyển hạ, sau đó là các tờ danh sách công đức góp tiền khắc ván. Đối chiếu với bản AC 158b, chúng ta biết được quyển hạ và bản sách này đều do Phó Hai xã Thanh lục khắc ván. Qua đây, cho thấy niên đại của bản AC.158b phải do Phúc Điền đứng ra khắc ván vào năm Tự Đức thứ 12 (1859). Vì nó nằm trong hệ thống ván của bộ Thiền uyển truyền đăng lục.

     Tóm lại, qua giới thiệu ba bản in sách Kế đăng lục, chúng tôi từng bước khai thác tình hình văn bản học của sách, tìm ra được niên đại quyển hữu (kí hiệu AC 158b) của sách Kế đăng lục mà thiền sư Phúc Điền cho in lại, nằm trong bộ Thiền uyển truyền đăng lục 5 quyển. Đây là một bộ sách có giá trị nhiều mặt, nhất là xác định sự truyền đăng của hai dòng Lâm Tế, Tào Động được lưu truyền tại miền Bắc nước ta, góp phần nghiên cứu lịch sử Phật giáo Việt Nam từ thời hậu Lê đến nhà Nguyễn.

TĐD



[1]. Nguyễn Lang đã chứng minh năm Giáp Dần triều Lê là năm 1734. Xin xem Việt Nam Phật giáo sử luận II.

[2]. Lúc đầu thiền sư Như Sơn chỉ soạn đến các thiền sư thời Hậu Lê, trước ngài vài đời như phái Lâm Tế thì có Chuyết Công, Minh Lương, Chân Nguyên; phái Tào Động có Thủy Nguyệt, Chân Dung. Như thế, chỉ chép được 5 vị tổ sư ở nước ta. Đến năm Tự Đức thứ 11, Phúc Điền cho bổ sung thêm 5 vị thiền sư phái Lâm Tế vào quyển tả và cho in lại. Lần in này, Phúc Điền đã soạn thêm một quyển hạ cho vào thành 5 quyển mang tên mới Thiền uyển truyền đăng lục. Trong đó, Kế đăng lục trở thành ba quyển giữa và nếu tách ra thì có thể xem như một tác phẩm riêng biệt.

[3]. Phần giới thiệu sách Kế Đăng Lục đã được Nguyễn Lang ghi chép khá kĩ trong Việt Nam Phật giáo sử luận II.

[4]. Trần Nghĩa (chủ biên), Di sản Hán Nôm Việt Nam thư mục đề yếu, tập 2, Nxb KHXH, 1993, tr. 3

[5]. Ngay cả Nguyễn Lang trong Việt Nam Phật giáo sử luận II chỉ nói về Như Sơn, Phúc Điền và sách Kế đăng lục. Thực ra, ông dùng một trong hai bản thông hành là bản in chùa Nguyệt Quang (Hải Phòng) và bản in trong bộ Việt Nam Phật điển tùng san. Thực ra, Việt Nam Phật điển tùng san lấy lại bản in chùa Nguyệt Quang nên bản in chùa Nguyệt Quang là một bản in được nhiều người nghiên cứu và có giá trị nhất trong quá trình tìm hiểu tác phẩm.

[6]. Nguyên văn “Tự Đức thập nhị niên tuế tại Kỷ Mùi chính nguyệt vọng nhật. Bồ Sơn đao điệp Phúc Điền Hòa Thượng soạn. Giám tự pháp danh Phương Viên thừa khắc. Sơn Tây tỉnh chưởng lĩnh binh Lê Thuận Chiếu pháp danh Đại Tuệ hưng công. Môn nhân Văn Đường phụng tả” (theo Kế đăng lục, phần tựa, tờ 4a4 - 4a2)

[7]. Nhìn vào tên bài tựa, kiểm chứng nội dung, chúng ta tưởng bài tựa đóng nhầm vào sách. Thực ra, khi in Kế đăng lục, Phúc Điền có ý định biên soạn một bộ Truyền đăng chia làm năm quyển và quyển Kế đăng lục được xem là những quyển giữa, còn quyển thượng sư in Thiền uyển tập anh và quyển cuối do chính sư soạn.

[8]. Nguyên văn: “Thời Lê Triều vạn vạn niên tuế tại Giáp Dần mạnh đông tiết cẩn thức, Hồng Phúc tự sa môn Như Sơn phụng soạn, Đường Hào huyện Trung Lập xã Phạm Gia Lạc phụng tả” (Kế đăng lục quyển nhất, phần tựa, tờ 4b)

[9]. Về niên đại của thiền sư Phổ Thận, chúng tôi căn cứ tấm bia tháp Thiệu Chu tại chùa Nguyệt Quang (tức chùa Đông Khê tại TP. Hải Phòng). Bia ghi: “Nam mô Thiệu Chu tháp ma ha sa môn Thanh Khoa tì kheo tự Phổ Thận Thích Xa Xa Thiền Sư hóa thân bồ tát. Nguyên mệnh sinh ư Kỷ Dậu niên lương nguyệt nhật thần, hưởng lão mạo thất thập nhất tuế. Tử ư Kỷ Mùi niên cửu nguyệt nhị thập tứ nhật thuận tịch”. Chúng tôi tạm dịch hàng niên đại, sư sinh giờ, ngày, tháng tốt năm Kỷ Dậu, thọ 71 tuổi. tịch ngày 24 tháng 9 năm Kỷ Mùi. Biết được năm khắc sách, suy ra năm sinh Kỷ Dậu phải là năm 1849, tịch năm Kỷ Mùi là năm 1919.

[10]. Trong phần đó, sư Phổ Thận gọi Kế đăng lụcKế đăng lục xuất tượng, vì trong đó có hình ảnh chư Phật, chư tổ. Nếu chúng ta sở hữu được các bản in trên thì sẽ biết được mấy tác phẩm nôm Phật giáo.

[11]. Chúng tôi sở hữu hai quyển Kế đăng lục. Đó là quyển nhất và quyển tả. Hai quyển này cũng được đóng riêng thành hai tập. Hai quyển của chúng tôi thuộc ván in chùa Nguyệt Quang như bản AC.158a.

[12]. Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận III, Nxb Lá Bối, 1993. tr. 157.

[13]13. Theo Di sản Hán Nôm Việt Nam thư mục đề yếu, tập 1, tr. 504 ghi: “Đại Nam Thiền uyển truyền đăng tập lục, Phúc Điền Hòa Thượng hiệu đính. Chùa Liên Tôn in năm Tự Đức 4 (1851). 1 bản viết, 130 tr, 27x17. A,2767….” Lê Mạnh Thát cũng cho bản này chép tay từ bản in của Phúc Điền. Thực chất, khi đọc bản này, chúng tôi thấy nó là bản in mà Lê Mạnh Thát gọi là “truyền bản đời Nguyễn” trong công trình Nghiên cứu về Thiền uyển tập anh. Không biết bộ Thư mục đề yếu có đọc hay không mà viết sai mấy thông tin. Bản in không đề niên đại, làm sao biết được in năm Tự Đức thứ 4 (1851). Chúng tôi chưa tìm ra bản sao tả do trường Viễn Đông Bác Cổ thuê chép, để Viện Đại học Vạn Hạnh cho in roneo làm tài liệu giảng dạy sau này.